Socrates (470-399 TCN) là một triết gia vĩ đại thời Hy Lạp cổ và là người đặt nền móng cho toàn bộ triết học phương Tây.
Thời còn trẻ, ông theo học triết gia Archelaus. Lớn lên ông tắm cả đời mình trong con đường Triết lý. Ông không để lại một văn viết nào, người đời chỉ biết ông qua những đối thoại được các đệ tử ghi lại, chủ yếu từ Plato.
Ông dạy học, không lấy thù lao, chẳng mấy quan tâm đến cuộc sống vật chất, chỉ có một mảnh áo khoác bận quanh năm suốt tháng và hầu như luôn đi chân trần. Dáng người lùn, thường để râu, trán sói, mũi dẹp, môi lớn, mắt lồi, lông mày rậm, ông giống như một dị nhân. Ngoại hình của ông khá trái ngược với chuẩn mực về cái đẹp ở Athens lúc bấy giờ.
Ông cũng rất nghèo, tài sản của ông chỉ có những vật dụng thiết yếu nhất cho cuộc sống. Tuy vậy, sự xấu xí về ngoại hình của ông lại không hề ngăn cản việc ông là một người cực kỳ thu hút những người xung quanh.
Ông ít khi ở nhà, suốt năm quanh tháng loanh quanh đó đây trong thành phố, có dịp cũng uống rượu, uống nhiều nhưng chưa hề say, gặp người nào cũng bắt chuyện để tìm hiểu những gì họ đang tin, từ đó chỉ cho họ những cái sai đúng và tìm ra những cái đúng chuẩn mực.
Thời bấy giờ luân thường đạo lý, các quy tắc đạo đức và tín ngưỡng bị suy thoái, người ta không có sự khiêm tốn và thực sự tin tưởng vào Thần. Socrates bảo lưu quan điểm rằng mục đích của triết học không phải là để nhận thức tự nhiên, mà đúng hơn là để “nhận thức tự kỉ”. Ông đề xướng nhận thức đạo lý làm người. Ông tin rằng mọi thứ trong thế giới này đã được Thần an bài.
Socrates được coi là triết gia đầu tiên dạy con người dành mọi ưu tiên cho bản thân mình, không phải cho những phù phiếm bên ngoài mà là một tư duy độc lập, không theo áp đặt, thần quyền, nhà chức trách và ngay chính cả luật pháp. Tin vào chính mình, mỗi người sinh ra đều có một cái tâm yêu sự lành thiện, không cầu gì cả trong lúc làm điều thiện, đấy là Chí Thiện; có một lý trí thẳng ngay để phân biệt điều tốt điều xấu, đấy là lý trí trong sáng; và có một lòng yêu thương để chan hòa sống với mọi người…
Ông coi trọng đạo đức và cho rằng “mỹ đức chính là tri thức”. Ông dành trọn cuộc đời để tiếp xúc với mọi người và ngăn họ phạm sai lầm. Ông muốn khơi dậy lòng tự trọng của họ.
Ông đặt câu hỏi: Tại sao một công dân của thành phố Athens vĩ đại, hùng mạnh và thông thái, lại quá quan tâm đến việc tích lũy thật nhiều tiền bạc, danh vọng và danh tiếng, mà lại quá ít quan tâm đến trí tuệ, chân lý và sự hoàn thiện tâm hồn? Bạn không thấy xấu hổ sao?
“Trên cả việc kiếm tiền, danh vọng, chăm chút bộ dáng bên ngoài, hãy tìm về mình và trau dồi đức hạnh. Tiền bạc, quan quyền không làm cho con người ta hạnh phúc, nhưng chính đức hạnh mới đem lại sự an lạc trong sở hữu vật chất. Nếu nói rằng những điều tôi dạy như vậy là đả phá tôn giáo, băng hoại đạo đức, thì quý vị đã quá sai lầm, còn nếu nói tôi dạy họ khác những điều này thì thật là một sự man trá. Dù có xử tội chết cả nhiều lần, tôi cũng không bao giờ từ bỏ việc giảng dạy này.” – Socrates thể hiện rõ ràng quan điểm nhân sinh của bản thân.
Socrates đã trò chuyện với tất cả mọi người – dù giàu hay nghèo, rằng cuộc sống theo đuổi sự giàu có, quyền lực và địa vị chỉ mang lại sự thỏa mãn phù du, hời hợt. Ngược lại, Socrates lại cho rằng chỉ có một cuộc sống cống hiến cho việc hoàn thiện tâm hồn thông qua việc vun đắp đức hạnh mới có thể mang lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống con người. Đây là một sự chuyển dịch giá trị hoàn toàn – sự tốt đẹp mang tính chuẩn mực trong việc ưu tiên sự giàu có, quyền lực và địa vị đã bị lật đổ bởi một quan niệm phát triển lấy con người làm trung tâm, tức là một quan niệm về sự tăng trưởng lấy con người làm trung tâm, chứ không phải sự vật.
Socrates khẳng định rằng luôn có một giọng nói thần thánh mà ông có thể nghe được từ bên trong mình trong những thời điểm quan trọng của cuộc đời ông. Đó không phải là giọng nói đưa ra cho ông những chỉ dẫn tích cực, mà là những lời cảnh báo khi ông đi chệch khỏi con đường.
Ông không chỉ dám từ chối mệnh lệnh bất chính của một bạo chúa đã ra lệnh cho ông phải bắt một người giàu, để hắn ta có thể tịch thu tài sản của họ, mà còn dám công khai lên án nó.
Bất kể đối phương là người quyền cao chức trọng hay thế lực hùng hậu, Soctares vẫn kiên trì nguyên tắc và chính nghĩa của mình. Ông không khuất phục trước bất kỳ lực lượng xã hội bất nghĩa nào, vì vậy mà ông đã vô tình chọc giận nhiều người.
Socrates là bậc thầy của phương pháp lập luận truy vấn (một hệ thống được sử dụng để tranh luận). Những tác phẩm của ông khiến ông có số lượng kẻ thù cũng nhiều như số người ngưỡng mộ.
Phương pháp tranh luận của Socrates bắt đầu bằng những câu hỏi khiến đối phương tin rằng người hỏi rất đơn giản, nhưng sau đó lại kết thúc bằng sự đảo ngược hoàn toàn. Vì thế, những đóng góp chủ yếu của ông là việc xóa bỏ những niềm tin sai trái và dẫn dắt con người nhận thức được sự thiếu hiểu biết của mình, từ vị trí đó họ mới có thể bắt đầu khám phá sự thật. Chính sự kết hợp độc đáo giữa kỹ năng biện chứng (sử dụng logic và lập luận trong một cuộc tranh luận) với sức hấp dẫn mạnh mẽ của ông với những người trẻ đã khiến những đối thủ của ông có cơ hội đưa ông ra xét xử vào năm 399 TCN.

Socrates bị buộc tội reo rắc nghi ngờ các thần linh mà chính thể Athens thời đó tôn thờ, kêu gọi nhân dân tôn thờ các thần linh ngoại lai, và làm hư hỏng thanh thiếu niên. Ông bị tòa án Athens kết án tử hình bằng cách phải tự uống thuốc độc chết.
Trong bức tranh về cái chết của Socrates, mô tả ông vừa nói vừa giơ tay trái chỉ lên trời như khẳng định sự trung thành với các lý tưởng của mình, trong khi đưa tay phải với lấy chén thuốc độc như dửng dưng trước cái chết.
Ngay cả khi đó, nhà triết học vẫn được lựa chọn bị trục xuất khỏi thành phố. Nhưng ông đã chọn ở lại và chấp nhận phán quyết. Ông nói rằng “ông nợ thành phố, nơi mà ông được nuôi dạy, một thành phố mà luật pháp đã cho ông được tôn trọng đến từng chữ một.”
Cuối cùng, Socrates được cho uống một cốc thuốc độc và kết thúc cuộc đời ở tuổi 70, nhưng điều đó dường như không làm phiền nhà triết học nổi tiếng, ông an nhiên đón nhận cái chết không chút run sợ.
Ông nói rằng triết gia không sợ chết, vì cái chết chỉ là một bước sang một trạng thái mới của linh hồn. Ông tự tay uống thuốc độc và chết trong sự bình tĩnh — một hình ảnh biểu tượng cho tinh thần tự do tư tưởng và trung thành với chân lý.
Trong tác phẩm Phaedo, Plato đã kể lại cuộc tranh luận của Socrates về sự bất tử của linh hồn. Kết thúc cuộc đối thoại, một trong những cảnh tượng xúc động và kịch tính nhất trong văn học cổ đại đã diễn ra – đó là cảnh Socrates nâng ly thuốc độc trong khi bạn bè ông ngồi xung quanh đầy bất lực. Trước khi tắt thở, Socrates vẫn không quên trăng trối với Crito bằng những lời hài hước: “Crito, tôi còn mắc nợ Asclepius một con gà trống, anh làm ơn trả giùm tôi được không?”.
Socrates là tên tuổi nhiều màu sắc nhất trong lịch sử triết học cổ đại. Danh tiếng của ông lan rộng khắp nơi và nhanh chóng trở thành một cái tên mà thời kỳ đó ai cũng biết, mặc dù ông không sở hữu trí khôn phi thường, không xây dựng hệ thống triết học, không thiết lập trường học và tông phái.
Tầm ảnh hưởng của ông tới đường hướng của triết học cổ đại thông qua Plato, những người hoài nghi và Aristotle, là không thể kể hết.
Socrates chết vì ông trung thành với lý tưởng triết học của mình – dám nói sự thật. Cuộc đời của ông là tấm gương cho lòng can đảm thực sự, khi dám bảo vệ chân lý, lẽ phải bằng cả mạng sống của mình.
Như Như (t/h)


